Đặt một lịch hẹn

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2025

Bảng kiểm khả năng nhận thức âm vị học của trẻ

 Dưới đây là bảng kiểm khả năng nhận thức âm vị học của trẻ, các Chuyên gia có thể tham khảo:


BẢNG KIỂM KHẢ NĂNG NHẬN THỨC ÂM VỊ HỌC

Có phải trẻ có khó khăn với:

Tuổi

Kĩ năng

Có

Không

0-2 years

Chưa áp dụng.

2-3 years

Bắt đầu hiểu các từ có vần.

3-4 years

Tạo ra các từ có vần.

4-5 years

Tạo ra các từ cùng vần.

Đếm các âm tiết trong từ.

Nhận diện/ tạo ra các từ với âm đầu giống nhau.

Phân tách và kết hợp âm bởi âm đầu và vần.

Kết hợp 2 hoặc 3 âm để tạo từ.

5-6 years

Vỗ tay và đếm âm tiết trong từ.

Nhận diện/ tạo ra các từ với âm đầu giống nhau.

Phân tách và kết hợp âm bởi âm đầu và vần.

Kết hợp 2 hoặc 3 âm để tạo từ.

Đếm các âm vị trong từ.

Nhận diện các từ có vần với nhau và quyết định từ khác với các từ còn lại.

Xác định cái âm đầu trong từ.

Xác định âm cuối của từ.

Xác định âm chính của từ.

Liệt kê các từ bắt đầu với cùng một âm vị trí bất kì.

Nói 3 từ với cùng phụ âm đầu.

Phân tách các âm vị trong từ.

6-7 years

Xác định âm đầu tiên trong từ.

Xác định âm cuối cùng của từ.

Xác định âm chính của từ.

Liệt kê các từ bắt đầu cùng một âm.

Nói 3 từ có phụ âm đầu giống nhau.

Thao tác bỏ một âm vị bất kì trong từ và nói lại từ mới.

Thao tác bỏ một âm vị bất kì trong từ và nói lại từ mới.

Thao tác thay thế các âm vị khác nhau để tạo thành từ mới.

7-8 years

Thao tác bỏ một âm vị bất kì trong từ và nói lại từ mới.

Thao tác thay thế một âm vị bất kì trong từ và nói lại từ mới.

Đánh vần các âm đơn lẻ của các từ bằng lời nói.

 

CVTL. Huỳnh Văn Nhành


Thứ Ba, 15 tháng 10, 2024

Bingo - Onset and Rime Tiếng Việt

Onset/ Rime- Âm đầu/ Vần

Onset là âm đầu tiên trong một từ. Rime là phần còn lại trong từ. Ví dụ, từ "bánh" có Onset là "b" và Rime là "anh". Rime cũng có thể nói tới như là vần trong từ. Với những học sinh có khuyết tật học tập, mức độ nhận biết Âm đầu và vần có vẻ là hiệu quả hơn học để nhận diện từng âm đơn lẻ (Nhận thức âm vị). 

Học sinh với khuyết tật học tập về mảng đọc cần nhiều chiến lược khác nhau để hiểu các mã âm vị của ngôn ngữ. Việc dạy những học sinh này cách để học sử dụng các chiến lược cụ thể hơn so với việc học cái gì, có thể quan trọng để giải mã các mẫu chữ cái. Sử dụng các hoạt động cho việc đánh vần Onset/ Rime có thể hiệu quả cho trẻ có khó khăn với việc nhận diện từ. Rimes là có thể dự đoán trong phát âm và đánh vần hơn các các âm nhỏ lẻ hoặc âm vị. Sử dụng việc đánh vần Onset/ Rime làm cho việc đánh vần dễ dàng hơn việc đánh vần các âm đơn lẻ. Ví dụ, đánh vần "b- ánh=Bánh" sẽ dễ dàng hơn là "b-a-anh=bánh". Khi trẻ trở nên quen thuộc với việc đánh vần cho vần "anh", học sinh chỉ cần nhớ phụ âm đầu là âm "b". 

Các hoạt động cho Onset/ Rime 

Hoạt động #1: Bingo từ cùng vần 

Bingo từ cùng vần là một hoạt động vui nhộn để học và thực hành chiến lược Âm đầu/ Vần. Các thẻ Bingo cho hoạt động này giống như các cái thang. Mỗi cái thang sẽ nổi bật lên một vần chung và được chơi giống như Bingo ngoại trừ tất cả các từ trên cái thang bị che lại mới thắng. Hoạt động này được phỏng theo, Word Family Bingo Ladders, by Violet Findley, Scholastic, 2008. 

Hướng dẫn:

Cắt các cái thang và các thẻ gọi tên ra và ép dẻo chúng. Một học sinh được gọi là Caller- người gọi từ trong khi các học sinh còn lại là người chơi. Khi người gọi từ Caller gọi một từ trên thang, các học sinh còn lại che từ đó lại. Học sinh đầu tiên có thể che hết tất cả các từ trên thang là người chiến thắng. Người chiến thắng có thể trở thành Caller- người gọi từ. 

Dưới đây là các ví dụ:

 











Thầy Nhành dịch

Robyn Fox, Indiana University - Purdue University Fort Wayne, Research-Based Strategies for Students with Learning Disabilities: Focus on Phonics and Fluency






Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2024

9 lý do khiến trẻ khó khăn trong việc đọc

Từ khó khăn trong nhận diên các âm đơn lẻ qua lời nói đến việc phát triển và duy trì động cơ để đọc. Có một vài lý do phổ biến nhất dẫn đến việc trẻ có khó khăn trong việc đọc.


Có nhiều lý do mà có thể gây khó khăn cho trẻ để học đọc. Dưới đây là một vài lý do phổ biến:

1. Khó khăn trong việc nhớ các chữ cái (tên chữ cái và các âm) một cách chính xác và nhanh chóng.

2. Khó khăn trong việc nhận diện các âm đơn lẻ trong ngôn ngữ nói (âm vị). Khả năng để nhận diện và thao tác với các âm lời nói được gọi là nhận thức âm vị. 

3. Khó khăn trong việc phân tách âm đơn lẻ và nhận diện các phần quen thuộc trong các từ. 

4. Khó khăn trong việc hiểu cái mà trẻ đọc. Vốn từ giới hạn và kiến thức nền tảng đóng góp tới việc đọc hiểu kém.

5. Kĩ năng ngôn ngữ còn hạn chế.

6. Trải nghiệm ít với chữ in và sách.

7. Khó khăn trong việc phát triển và duy trì động cơ để đọc.

8. Hướng dẫn đọc trong lớp học không dựa trên chứng cứ, không rõ ràng và không có hệ thống.

9. Hướng dẫn không đáp ứng nhu cầu cá nhân của trẻ. Ví dụ, một trẻ với chứng khó đọc - Dyslexia có thể cần các hướng dẫn từng bước một và cần được cung cấp trình tự kế hoạch một cách kĩ lưỡng.

Có nguy cơ không có nghĩa là trẻ phải cái khó khăn trong việc đọc nhưng quan trọng là trẻ cần theo sự theo dõi và can thiệp sớm đặc biệt để ngăn ngừa các khó khăn diễn ra liên tục trong việc đọc.

Nguồn: https://khodocvietnam.blogspot.com/2024/06/9-ly-do-khien-tre-kho-khan-trong-viec-oc.html

Người dịch: Thầy Nhành


Thứ Năm, 6 tháng 6, 2024

Đọc hiểu

Thông hiểu là lý do cho việc đọc. Nếu trẻ đọc có thể đọc các từ mà không hiểu hoặc kết nối tới cái mà họ đang đọc, họ sẽ không thực sự đang đọc. Những trẻ đọc giỏi là những người đọc có mục đích và đọc chủ động và có các kĩ năng tiếp thu cái mà họ đọc, phân tích nó, hợp lý nó và tạo thành cái riêng của mình.

                                    Đọc hiểu

Trẻ đọc giỏi chủ động tư duy khi đọc. Trẻ sử dụng kinh nghiệm và kiến thức hiểu biết của mình,  hình thái học, vốn từ, cấu trúc ngôn ngữ, các chiến lược đọc để hợp lý các văn bản và biết cách để hiểu tốt nhất. Trẻ suy nghĩ về cấu trúc văn bản khi trẻ đọc. Trẻ biết khi nào mình gặp vấn đề và chiến lược tư duy nào để sử dụng giải quyết các vấn đề đó khi vấn đề xuất hiện. Các thành tố đó cho phép một trẻ đọc giỏi tạo ra một model mental của văn bản khi trẻ đọc.

Giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ học sinh phát triển các kĩ năng đọc hiểu của mình.Nghiên cứu về việc đọc đã cho thấy rằng hướng dẫn đọc hiểu có thể giúp trẻ thực hiện tốt hơn việc hiểu biết và ghi nhớ cái mà trẻ đọc. Việc hướng dẫn tốt cũng có thể giúp trẻ giao tiếp tốt với người khác bằng lời nói và trong việc viết về cái mà trẻ đọc. 

Cái mà trẻ đọc giỏi làm 

Dựa vào kiến thức ưu tiên - Draw on prior knowledge

Trẻ đọc giỏi dựa vào kiến thức ưu tiên và kinh nghiệm để giúp chúng hiểu cái mà chúng đang đọc.

Đưa ra suy luận

Thêm vào đó, sự hiểu biết nghĩa đen mà tác giả đưa ra, trẻ đọc giỏi có thể "hiểu rõ vấn đề" đưa ra suy luận vầ một giới hạn rộng các ý nghĩa ẩn dấu (nghĩa bóng) như vì sao các sự kiện đang diễn ra khi trẻ đọc, vì sao các nhân vật cư xử trong một cách nhất định, các nhân vật đang nghĩ cái gì, và cái gì sẽ diễn ra tiếp theo.

Chú ý tới các câu và sự gắn kết văn bản

Trẻ đọc có kĩ năng nhận thấy mỗi từ trong một câu và nhận biết cách mà các từ đơn có thể thay đổi nghĩa của một câu hoặc thâm chí là một đoạn văn. Việc chú ý tới ý nghĩa của đại từ và các từ, cụm từ kết nối khác chỉ trong một câu phức có thể tạo ra sự khác biệt trong việc hiểu văn bản của trẻ.

 Một vài văn bản mạch lạc hơn, có nghĩa là thông điệp của tác giả được hiểu một cách dễ dàng vì trẻ có thể nhanh chóng di chuyển từ câu này sang câu tiếp theo. Thú vị thay, trẻ đọc có kĩ năng có xu hướng học nhiều hơn từ các văn bản ít mạch lạc, hầu như bởi vì chúng phải chú ý nhiều hơn tới việc hiểu nghĩa. Các văn bản mà ít mạch lạc có cấu trúc câu phức tạp và vì vậy có xu hướng khó hơn cho người hiểu kém. Các giáo viên phải chú ý để các khó khăn và hõ trợ trong các câu của văn bản mà mình lựa chọn để đọc cho trẻ.

Tự theo dõi

Trong lúc đọc, trẻ đọc giỏi học cách để theo dõi sự hiểu biết của mình, sửa đổi tốc độ đọc của mình để giải quyết các khó khăn của văn bản và giải quyết bất kì các vấn đề thông hiểu mà chúng có. Sau đó, trẻ kiểm tra sự hiểu biết của mình về cái mà mình đang đọc. Các học sinh cũng giỏi về việc theo dõi sự thông hiểu của mình biết khi nào trẻ hiểu các mà trẻ đang đọc và khi nào là không.

Hình thành tâm ảnh tâm trí - Form mental images

Trẻ đọc giỏi thường hình thành các hình ảnh tâm trí khi chúng đọc. Những tre đọc các bức tranh từ câu chuyện hiểu và nhớ cái mà trẻ đang đọc tốt hơn là các trẻ không tạo được một hình ảnh tâm trí.

Tóm tắt và kể lại

Việc tóm tắt yêu cầu học sinh sẽ quyết định phần nào là quan trọng trong văn bản và sau đó đưa ra theo quan điểm của mình bằng cách kể lại bằng lời nói hoặc viết ra. Việc hướng dẫn trong việc tóm tắt có thể giúp học sinh trở nên có mục đích hơn khi chúng đọc và có nhiều kĩ năng hơn trong việc thông hiểu. Tóm tắt có thể giúp học sinh để :

  • xác định ý chính qua lời nói và qua việc viết
  • kết nối ý chính hoặc ý trọng tâm qua lời nói hoặc viết
  • học cách loại bỏ đi các thông tin không cần thiết
  • nhớ cái mà trẻ đọc

Suy nghĩ về cấu trúc văn bản

Trẻ đọc tốt nhận ra một văn bản được tổ chức như thế nào. Hiểu sự khác biệt giữa cấu trúc tưởng thuật khác với câu trúc mô tả có thể giúp một trẻ dự đoán và nắm biết đầy đủ thông điệp của tác giả.

Nguồn: https://www.readingrockets.org/reading-101/reading-and-writing-basics/reading-comprehension

Người dịch: Thầy Nhành



Các giai đoạn viết

Gần như mỗi việc tương  tác trong thế giới của trẻ đang chuẩn bị cho trẻ để trở thành một người đọc và viết. Bài viết này sẽ vạch ra các giai đoạn của việc phát triển kĩ năng viết và một số mẹo hay cho người lớn để giúp trẻ học viết.


Trẻ sẽ trải qua nhiều giai đoạn khi chúng học cách để viết. Các giai đoạn phản ánh kiến thức phát triển của trẻ về việc đọc và viết bao gồm các chữ cái, các âm, và không gian giữa các từ trong các câu. Hầu như mỗi lần tương tác của trẻ với thế giới là đang chuẩn bị cho trẻ trở thành người đọc và viết. Các chỉ số của các giai đoạn được miêu tả bên dưới.

Chúng ta nên nhớ rằng có nhiều sự khác biệt trong cách mà trẻ vượt qua các giai đoạn viết; Các giai đoạn có thể không giống nhau hoặc không diễn ra trong cùng một thời điểm hoặc theo một thứ tự. Nhiều các phương thức viết và học từ gọi tên các giai đoạn với thuật ngữ riêng của chúng sử dụng nhiều sự mô tả khác nhau. Các sự mô tả bên dưới được thiết kế để truyển tải các đặc trưng viết phổ biến. 

Viết nguệch ngoạc - Scribbling/ drawing

Hầu hết các trẻ bắt đầu công việc viết bằng việc vẽ nguệch ngoạc. Nắm chặt màu hoặc bút chì bằng lòng bàn tay, một trẻ biết vẽ nguệch ngoạc đang khám phá không gian và các dạng. Trẻ đang tạo ra một ghi chép lâu dài trong ý tưởng và suy nghĩ của mình. Việc vẽ nguệch ngoạc ban đầu có thể là thành quả đáng tự hào của trẻ. Bút lông dày hơn, bút màu và giấy không có ô sẵn là các công cụ cho trẻ viết giỏi cho giai đoạn này. 

Tạo hình giống chữ cái và hình dạng

Tại giai đoạn viết này, trẻ bắt đầu cho thấy sự hiểu biết rằng người viết sử dụng các kí hiệu để truyền tải ý đồ của mình. Việc viết bắt đầu bao gồm các hình dạng (hình tròn, hình vuông) hoặc các hình khác. Trẻ trong giai đoạn này thường viết một thứ gì đó và hỏi, "cái này là cái gì?". Có rất ít sự định hướng về hình thức và hình dạng trong không gian (tức là chúng xuất hiện ở những vị trí ngẫu nhiên trong văn bản hoặc bản vẽ). Những chiếc bút đánh dấu, bút màu và giấy vẫn là những công cụ hữu ích của trẻ ở giai đoạn này. 

Viết chữ cái 

Khi việc viết của trẻ tiếp tục phát triển, trẻ bắt đầu sử dụng chữ cái ngẫu nhiên. Hầu hết các trẻ bắt đầu với các phụ âm, đặc biệt trong tên các tác giả. Các bài viết thường là một chuỗi các phụ âm viết in hoa không chú ý đến không gian giữa các từ hoặc tính định hướng. Bắt đầu giai đoạn này, vẫn còn sự thiếu hụt mối quan hệ biểu tượng và âm giữa các từ mà trẻ đang cố gắng viết và bao gồm tên riêng của tác giả. Cac loại giấy khác nhau, bao gồm tập ghi nhớ, phong bì, giấy có dòng kẻ và một số bút mực và bút chì nhỏ hơn là những công cụ hữu ích cho người viết ở giai đoạn này. Những hộp đựng chữ xốp và nam châm chữ cái cũng rất tiện dụng.

Các chữ cái và khoảng cách 

Khi bắt  đầu trẻ thực hành kĩ năng của mình, trẻ đang học nhiều khai niệm về chữ in. Khi trẻ chỉ tới các từ đơn lẻ trên trang giấy khi đọc và bắt cặp các chữ cái và âm, một khai niệm về từ đang phát triển. Sự nhận thức về mục đích và sự hiện diện của khoảng trống giữa các từ và các từ được nối phù hợp với các từ đã được ghi sẵn được biết là khai niệm về từ. Thường được gọi là sự kiện bước ngoặt của trường mẫu giáo, người lớn quan sát các nhà văn trẻ chèn những không gian quan trọng này vào tác phẩm của chính họ. Được hướng dẫn bằng ngón trỏ ở giữa mỗi từ hoặc bằng các dòng do giáo viên vẽ, trẻ thể hiện sự tương ứng 1-1 với các từ.

Ở giai đoạn này, trẻ viết có âm đầu và âm cuối. Trẻ cũng có thể bắt đầu đánh vần chính xác một số từ có tần số cao. Nguyên âm có thể được chèn vào từ. Khi học sinh chuyển sang cách viết thông thường hơn, các em sẽ bắt đầu viết các từ theo cách phát âm của chúng. Dấu câu bắt đầu khi người viết thử nghiệm việc hình thành câu.

Đánh vần và viết theo quy ước - Conventional writing and spelling

Ở giai đoạn này, trẻ đánh vần hầu hết các từ một cách chính xác, dựa vào kiến ​​thức ngữ âm để đánh vần các từ dài hơn. Trẻ sử dụng dấu chấm câu một cách chính xác và sử dụng chữ in hoa và chữ thường vào đúng chỗ. Viết cho các mục đích khác nhau trở nên quan trọng hơn. Học sinh lớp một và lớp hai thường viết biển hiệu trước cửa phòng ngủ hoặc viết thư cho bạn bè. Ngôn ngữ trong truyện, “Ngày xửa ngày xưa” và “hạnh phúc mãi mãi về sau” trở thành một phần của mẫu văn viết khi đứa trẻ gia nhập liên minh các nhà văn với mục đích kể chuyện. Khi học sinh tiến bộ qua các giai đoạn viết, nhiều phần khác nhau sẽ trở nên tự động và trôi chảy hơn. Việc viết tay trở nên dễ dàng hơn, cũng như việc đánh vần phần lớn các từ.

Ở mọi giai đoạn, điều quan trọng là tôn vinh nỗ lực viết lách của con bạn. Tìm cơ hội để con bạn chia sẻ công việc của mình với người khác. Trưng bày sản phẩm của con bạn trên tường hoặc trên tủ lạnh. Yêu cầu con bạn đọc tác phẩm của mình tại bàn ăn tối hoặc ngồi trên ghế dành riêng cho tác giả.

Nguồn: https://www.readingrockets.org/classroom/looking-writing/stages-writing

Người dịch: Thầy Nhành

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2024

Dạy đánh vần

                      

Dạy đánh vần

Việc đánh vần tốt không phải là bản năng của mỗi người mà do học được! Hầu như 90% các từ tiếng anh có thể được đánh vần nếu một học sinh biết các quy luật, các nguyên tắc và các mẫu đánh vần cơ bản. Người đánh vần tốt trở thành người đọc và viết giỏi hơn. 

Học để đánh vần được dựa trên sự hiểu biết của trẻ rằng các từ được tạo thành từ các âm thanh tách biệt (âm vị) và các chữ cái đại diện những âm đó. Khi trẻ được làm quen với nhiều từ, trẻ bắt đầu nhận biết các mẫu mà các chữ cái được sử dụng và chuỗi lặp lại của các chữ cái đại diện các âm tiết, từ cuối, từ gốc, tiền tố và hậu tố. 

Trong khối tiểu học, hướng dẫn đánh vần sẽ gối chồng với nhận thức âm vị và hướng dẫn dạy ngữ âm và nhiều trong các cách thực hành đó đã sử dụng trong việc dạy ngữ âm cũng như hỗ trợ việc dạy đánh vần ban đầu. Đánh vần là quan trọng bởi vì nó giúp trẻ thắt chặt sự hiểu biết với chữ in.

Việc viết dựa vào các kĩ năng cơ bản giống như đánh vần, hoặc đọc chữ in. Trẻ thường học để đọc một từ trước khi chúng có thể đánh vần nó. Với nhiều lần tiếp xúc và thực hành, trẻ sẽ có các biểu tượng chính xác của các chữ in trong trí nhớ. Hướng dẫn đánh vần giúp trẻ sơ đồ và lưu trữ các từ lâu dài cho việc viết nhanh và chính xác. 

Đặt việc đánh vần trong tầm nhìn rộng 

Hầu hết các từ tiếng anh có thể được đánh vần nếu bạn biết các mẫu (partterns), nguyên tắc và quy luật cơ bản. Trẻ có thể sử dụng các quy luật đó như một công cụ hỗ trợ đến việc đánh vần các từ chưa được biết. Nếu một trẻ can thể đánh vần một từ, thông thường trẻ cũng có thể đọc từ đó.

Có khoảng 400,000 từ trong từ điển tiếng anh. Khoảng 50% các từ đó, các liên kết âm và chữ cái được sơ đồ đơn giản và tuyệt đối. Những từ đó không phải được ghi nhớ. Khoảng 40% được học dễ dàng thông qua hướng dẫn của mỗi quan hệ âm và chữ cái ít phức tạp hơn. Chỉ khoảng 10% của các từ tiếng anh là thực sự ngoại lệ trong đó chúng phải được ghi nhớ bằng việc quan sát. 

Hướng dẫn đánh vần nên bao gồm các gì :

- Nguyên tắc chữ cái - Alphabetic Principle : Kiến thức của các chữ cái đơn lẻ liên kết với các âm, theo thứ tự từ trái sang phải. 

- Kiến thức mẫu - Pattern Information : Nhóm các chữ cái hoạt động như một mẫu để đại diện các âm. 

- Biến thể đánh vần dựa trên các từ gốc.

- Kiến thức về mặt nghĩa (mặc hình thái học và hình thái): các nhóm chữ cái đại diện cho một ý nghĩa. Hướng dẫn nên bao gồm việc dạy các tiền tố, hậu tố, từ gốc. Người đọc giỏi có thể hiểu sâu các vốn từ bằng việc học.

Nguồn: https://www.readingrockets.org/reading-101/reading-and-writing-basics/spelling


Người dịch: Thầy Nhành


Sơ đồ chính tả và Sight Words - Orthographic mapping and sight words

Cách nào để học sinh đi từ việc phân tách âm mỗi từ đến việc biết sight words?

Quá trình của việc lưu trữ một từ lâu dài trong trí nhớ cho việc truy suất tức thời được gọi là Sơ đồ chính tả (Ehri, 2014, Kilpatrick, 2015).  Các nhà nguyên cứu cho biết rằng chúng ta có thể lướt qua mỗi chữ cái của mỗi từ khi chúng ta đọc. Não của chúng ta sử dụng cái mà chúng ta biết về mối quan hệ chữ cái và âm thêm vào nhận thức qua lời nói đến sơ đồ các nhóm chữ cái và các từ đi cùng với nhau như một đơn vị. Các đơn vị đó được lưu trữ trong trí nhớ dài hạn. 



Vậy thì, bằng cách nào trẻ có thể chuyển từ chữ in sang một sight word? 

Tạo một từ khó đánh vần liên quan dến việc hình thành mỗi quan hệ lâu dài giữa các chữ cái của một từ, phát âm của nó, và nghĩa của nó trong trí nhớ (Perfertti, 1992; Rack, Hulme, Snowling&Wightman, 1994). Để đọc một từ, một sự kết nói giữa việc đánh vần từ đó và mỗi quan hệ chữ cái và âm đóng vai trò quan trọng (Ehri, 1992, 1998). Người đọc phải nhận biết thứ tự của các chữ cái hoặc đánh vần, phát âm cái từ đó, sơ đồ các âm và chữ cái thông qua việc đọc và viết từ đó một vài lần đê đảm bảo nó trong trí nhớ. Cái quy trình sơ đồ chính tả đó hình thành "the glue" - gắn kết các từ trong trí nhớ. Một khi một người đọc có một hệ thống sơ đồ chữ cái mạnh trong đúng chỗ - từ khó đánh vần sẽ diễn ra nhanh và dễ dàng. 

Sight words và các từ với tần suất xuất hiện cao (high-frequency words)

Sight words thông thường bị nhầm lẫn với các từ tần suất xuất hiện cao. Từ tần suất xuất hiện cao là những danh sách các từ mà thường xuyên xuất hiện trong các văn bản. Một từ dễ đánh vần có thể là bất kì từ nào, bao gồm từ có tần suất xuất hiện cao. Từ có tần suất xuất hiện cao nhất khoảng 100 từ chiếm 50% các từ được sử dụng trong trường học hoặc đại học (Zeno et al, 1995). Khoảng 25% những từ đó là từ bất quy tắt (không theo quy tắt đánh vần thông thường). Vì chúng có vẻ thường xuyên xuất hiện trong văn bản, việc thông hiểu chúng là quan trọng. Nhiều từ tần suất xuất hiện cao là những từ chức năng ginogs mạo từ, giới từ, đại từ và liên từ cái mà kết nối các câu lại với nhau để hướng dẫn người đọc. 

Nhiều trường học yêu cầu học sinh học danh sách đặc biệt các  từ tần suất xuất hiện cao như một hệ thống để nâng cao các từ dễ đánh vần. Điều đó là chưa hiểu quả nếu không cho phép trẻ học Phonics và Nhận thức âm vị (Phonics and Phonemic Awareness).

Nhiều từ tần suất xuất hiện cao có chứa các từ với việc đánh vần bất quy tắc. Những nhóm bất quy tắt của một từ không thể được dự đoán bưng việc phân tách qua lời nói (Canine et al, 2006). Các từ mà có đặc tính khó dự đoán được gọi là từ bất quy tắc. Trong tiếng anh các từ đó thông thường có một hoặc hai chữ cái. Học sinh có thể dựa vào Phonics để đánh vần hầu hết các từ và ghi nhớ chúng vào trong trí nhớ các chữ cái bất quy tắt. Người đọc giỏi có thể yêu cầu tối thiểu một đến bốn lần thực hành hoặc tiếp xúc để ghi nhớ các từ bất quy tắt vào trong trí nhớ. 

Nguồn: https://www.readingrockets.org/reading-101/reading-and-writing-basics/sight-words-and-orthographic-mapping

Người dịch: Thầy Nhành


Nhận thức chữ in - Print Awareness

Nhận thức chữ in 

Nhận thức chữ in hay còn gọi là Khái niệm chữ in là việc hiểu rằng chữ in mang một ý nghĩa nào đó, những cuốn sách có chứa chữ cái và từ. Nhận thức chữ in cũng bao gồm việc hiểu những cuốn sách được sử dụng cho mục đích gì và chúng hoạt động như thế nào - cách để lật qua các trang, cách để tìm đầu và chân trang, và cách để xác định tiêu đề, bìa trước và bìa sau. 

Nhận thức chữ in là giới thiệu sớm nhất của một đứa trẻ tới việc học đọc viết.

Trẻ với nhận thức chữ in hiểu rằng chữ in có nhiều chức năng khác nhau phụ thuộc vào cái bối cảnh nó xuất hiện - menus liệt kê các lựa chọn đồ ăn, một cuốn sách kể một câu chuyện, một biển báo thông báo một nhà hàng yêu thích hoặc một cảnh báo nguy hiểm. 

Nhận thức chữ in là hiểu rằng chữ in được tổ chức trong một cách đặc biệt - biết được chữ in được đọc từ trái sang phải và từ trên xuống dưới. Trẻ biết rằng các từ có chứa các chữ cái và có khoảng trống giữa các từ. 

Hầu hết các trẻ biết nhận thức chữ in trước khi vào trường học. Chúng nhìn thấy chữ in xung quanh mình, trên biển báo, hoặc trên biển quảng cáo, trong các cuốn sách về chữ cái, các cuôn sách kể chuyện, trong nhãn dán, trên tạp chí, hoặc trên các bài báo. Nhìn chữ in và quan sát các phản ứng của người lớn tới chữ in giúp trẻ nhận diện các dạng khác nhau của nó. 

Khả năng để hiểu cách chữ in hoạt động không phải tự nhiên trẻ có. Việc hiểu đó hoạt động không ngừng thông qua can thiệp chủ động của người lớn và những trẻ có thể chỉ được chữ cái, từ và các đặc trưng khác của chữ in. 

Khi trẻ được nghe đọc thường xuyên, khi chúng chơi với chữ cái và tham gia các hoạt động có từ, sau đó khi chúng nhận được các hướng dẫn đọc chính thức chúng bắt đầu hiểu cách một hệ thống chữ in hoạt động; Đó là vì chữ in trên trang được đọc từ trang sang phải, và từ trên xuống dưới; Các câu bắt đầu với chữ in hoa và hết thúc với một dấu chấm, và nhiều, nhiều hơn nữa. 

Khi trẻ được đọc với người lớn, trẻ cũng học về các tính năng của cuốn sách - ví dụ như tác giả, tên các nhà đồ họa, tiêu đề sách, và số trang. Chúng cũng học về cách trình bày cuốn sách- bao gồm cách để lật qua các trang, cách để tìm phía trên và phía dưới trang, cách để xác định bìa trước và sau trang. 

Như một phần của việc học, chúng bắt đầu phát triển khái niệm rất quan trọng của từ - ý nghĩa được truyên tải thông qua từ; Các chữ in được chia bởi khoảng cách; và một vài từ trong chữ in có vẻ dài hơn các từ khác. 

Nguồn: https://www.readingrockets.org/reading-101/reading-and-writing-basics/print-awareness

Người dịch : thầy Nhành

Chủ Nhật, 19 tháng 11, 2023

Các Phương pháp dạy ngữ âm và các cách tiếp cận

 Các loại Phương pháp dạy ngữ âm và các cách tiếp cận

Các phương pháp dạy Phonics -tiếng Việt

Có nhiều loại phương pháp dạy ngữ âm khác nhau như Phương pháp ngữ âm tổng hợp, phương pháp ngữ âm phân tích ... Ví dụ trong phương pháp dạy ngữ âm tổng hợp, trẻ được dạy để kết nối các chữ cái đơn lẻ hoặc các chữ cái kết hợp với những âm tương ứng, sau đó kết hợp các âm đó lại thành một từ. Trong phương pháp dạy ngữ âm phân tích, trẻ được dạy toàn bộ từ theo sau bởi các hướng dẫn có hệ thống liên kết với các chữ cái cụ thể trong từ với các âm tương ứng. 

Hướng dẫn dạy ngữ âm có thể khác biệt tùy thuộc vào mức độ rõ ràng bởi các thành phần ngữ âm cần được dạy và thực hành trong văn bản. Ví dụ, nhiều trong cách tiếp cận dạy ngữ âm tổng hợp sử dụng hướng dẫn trực tiếp trong việc dạy các thành phần ngữ âm và cung các nhiều cơ hội để áp dụng những kĩ năng đó trong các văn bản dễ đánh vần được đặc trưng bởi vốn từ kiểm soát. Mặt khác tuy các khái niệm ngữ âm đã được học có thể vẫn được hiện diện một cách có hệ thống nhưng cách tiếp cận dạy ngữ âm ghi vào thông thường ít rõ ràng hơn, sử dụng các văn bản dễ đánh vần cho việc thực hành ít thường xuyên. 

- Dạy ngữ âm tương tự (Analogy Phonics) : 

Dạy học sinh các từ mới bằng các từ đã biết trước đó. Ví dụ, nhận diện cái vần của từ mới giống với vần của từ đã biết, sau đó kết hợp vần đã biết với một phụ âm đầu mới, ví dụ như là đọc báo bởi việc trẻ nhận diện ra rằng vần -ao có trong từ đã biết là "cáo", hoặc đọc "sáo" từ phép tương tự "cháo".

- Dạy ngữ âm phân tích (Analytic Phonics) : 

Dạy học sinh phân tích mối quan hệ chữ cái và âm trong những từ đã học trước đó để tranh việc phát âm từng âm.

- Dạy ngữ âm ghi vào trí nhớ (Embedded Phonics) : 

Dạy học sinh các kĩ năng ngữ âm bằng việc hướng dẫn ngữ âm gắn vào trong việc đọc văn bản, một cách tiếp cận không rõ ràng hơn dựa vào một vài mức độ trong việc học ngẫu nhiên.

- Dạy ngữ âm thông qua đánh vần (Phonics through spelling) : 

Dạy học sinh để chia các từ thành các âm vị, lựa chọn các chữ cái cho các âm vị đó.

- Dạy ngữ âm tổng hợp (Synthetic Phonics) :

Dạy học sinh một cách rõ ràng việc chuyển đổi các chữ cái thành âm, sau đó kết hợp các âm lại để tạo thành từ.
Các bài viết liên quan :
- Thông hiểuThông hiểu

Nguồn tham khảo : https://www.ldonline.org/phonics-instruction
 

Được hỗ trợ bởi các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm.

Những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm dạy trẻ Khuyết tật học tập.

Meet our experts
Rayma Griffin, MA, MEd
Huỳnh Văn Nhành, Chuyên viên Tâm lý học

"I am a educator who earned a Bachelor’s degree of Arts in Psychology from HCM City University of Education in Vietnam"